//go.ad2up.com/afu.php?id=94845
 
   
kết quả từ 1 tới 8 trên 8
  1. #1
    Tham gia
    Aug 2008
    Cư trú
    Bức Tường Nền Tảng
    Bài viết
    755
    Thích
    603
    Được Thích 608 lần trong 278 bài
    Đã nhắc đến
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    cup Truyền Thuyết Về Phụ Nữ Nỗi Tiếng Trong Lịch Sử

    Vinh Danh Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam!

    “Phụ nữ Việt Nam trung trinh, tiết hạnh”
    “Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm”
    “Ra ngoài, giúp nước giúp non”
    “Về nhà, tận tụy chồng con một lòng”


    Mở Đầu

    Phụ nữ Viêt Nam từ ngàn xưa đã vang danh “trung trinh tiết hạnh”, đúng với lời giáo huấn của cha ông:

    “Trai thời trung hiếu làm đầu”
    “Gáí thời tiết hạnh làm câu trau mình”

    Những tấm gương oai hùng như bà Trưng, bà Triệu, hiền phụ như bà Tú Xương, bà Sương Nguyệt Anh. Những tấm lòng cao cả của các bà mẹ Việt Nam vẫn thường được nhắc nhở hàng năm trong các ngày Lễ Mẹ, ngày Rằm tháng Bẩy với “bông hồng cài áo”. Không ai có thể phủ nhận sức chịu đựng bền bỉ và đức tính cần cù chịu khó của các bà mẹ Việt Nam. Cũng không ai có thể phủ nhận đức tính trong sạch, ngay thẳng, và đàng hoàng của người phụ nữ Việt Nam. Những đức tính hy sinh, can đảm và chan chứa tình người đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam lên hàng Tiên Thánh, và biến một số người đàn bà nước Nam thành những vị Phụ Nữ Truyền Thuyết trong lịch sử dân tộc Việt.

    Truyền Thuyết Là Gì?

    Theo Giáo Sư Trần Gia Phụng, “Truyền thuyết là những câu chuyện bắt đầu từ sự thật lịch sử, được thêm thắt hoặc được tiểu thuyết hóa, và được truyền tụng từ người này qua người khác, từ đời này qua đời khác, rồi lại được dân chúng chấp nhận như là những chuyện lịch sử có thật”.
    Tìm hiểu nghĩa ch “truyền thuyết”, Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh chỉ cho biết đơn giản: “nói lại với người khác”. Theo nghĩa tiếng Anh, “truyền thuyết” dịch từ chữ “Legend”, có nghĩa là “thánh truyện, truyện thần tiên, truyện hoang đường” (Từ Điển Nguyễn Văn Khôn). Thật ra, chữ “Legend” phát xuất từ chữ Latin “legenda”, động từ là “legere” có nghĩa là đọc (to read).

    Thời Trung Cổ (Medieval), chữ Latin “legenda”, được dùng với nghĩa “điều gì đó để đọc”, đặc biệt dùng trong thể kể chuyện đời sống các Thánh. (Tiểu sử các Thánh được kể lại, quan trọng cả về tài liệu lịch sử, lẫn gương đạo đức). Chữ “Legend” trong tiếng Anh được vay mượn ở chữ “Legenda” từ thế kỷ 14, có nghĩa là: “câu chuyện được truyền tụng trong dân gian, nhưng không thể kiểm chứng được, tựa như các chuyện hoang đường”. Nếu là “Nhân vật truyền thuyết”, những nhân vật này có tên trong lịch sử được dân chúng kể đi kể lại nhiều lần trong nhiều đời, hoặc được thêm thắt, thần thánh hóa, để trở thành nhân vật lịch sử có thật. Đó là những Anh hùng, Anh thư, những Sương phụ, Hiền phụ và những danh nhân, danh tướng trong lịch sử.

    Trong thời gian gần đây, người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều rất xôn xao khó chịu về những tin tức liên quan đến thân phận người con gái Việt Nam: “bị đầy đọa khi lấy chồng ngoại quốc, bị rao bán như nô lệ, hoặc làm nghề mãi dâm tại nhiều nơi, trên nhiều quốc gia”. Những hình ảnh này làm tổn thương đến danh dự người Việt nói chung, người phụ nữ Việt nói riêng không ít.

    Thực tế, phần lớn Phụ Nữ Việt đều là những cô gái ngoan, hiền, trung trinh tiết hạnh theo truyền thống văn hoá Việt.

    Chúng ta vinh danh Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam chính là để xua tan bóng mây mù đang che mờ đi hình ảnh người con gái Việt Nam oai hùng, tiết liệt, đồng thời để chứng minh với người ngoại quốc rằng: Phụ nữ Việt từ ngàn xưa vẫn là những cô gái được nhân gian tôn vinh kính trọng.

    Thử đề nghị một Danh Sách Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam:

    Đây là việc làm của Giáo Sư Trần Gia Phụng năm 1999, trong tập biên khảo “Những câu chuyện Việt Sử”, nhân báo Thời Sự (Toronto) số 145 ngày 20-6-1998 đăng tải danh sách 23 vị Phụ nữ của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam (HLHPNVN) trình lên cơ quan UNESCO để chọn 10 người vào danh sách “Những phụ nữ truyền thuyết trong lịch sử thế giới” (The Women of the Legend in the Word History). Cũng theo Giáo sư Phụng phân tích, bảng danh sách của HLHPNVN đưa ra không được chính xác so với định nghĩa, thế nào là “truyền thuyết”, và thiếu vô tư, hoặc thiên vị. Cho tới nay, thời gian gần 6 năm đã trôi qua, không rõ cơ quan UNESSCO có chấp nhận bảng danh sách này hay không? Và sự lựa chọn ra sao?

    Trên thực tế, Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam rất nhiều, nhất là những bà vợ, bà mẹ các nhà cách mạng tranh đấu chống ngoại xâm và tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền; kể cả những Phụ nữ đã phải hy sinh trong rừng già, hay trên biển Đông vì lý tưởng Tự Do. Đó là những vị Phụ nữ truyền thuyết không tên tuổi rất xứng đáng được vinh danh.

    Dựa vào bảng danh sách của HLHPNVN và của Giáo Sư Trần Gia Phụng đề nghị, chúng tôi xin mạo muội trình lên quí vị một danh sách “Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam” như sau:

    1- Quốc Mẫu Âu Cơ,
    2- Trưng Vương,
    3- Công Chúa Hoàng Thiều Hoa,
    4- Lê Chân,
    5- Bà Triệu,
    6- Thái Hậu Dương Vân Nga,
    7- Thái Hậu Ỷ Lan,
    8- Công Chúa Huyền Trân,
    9- Công Chúa An Tư,
    10- Nguyễn Thị Bích Châu,
    11- Lương Minh Nguyệt,
    12- Vũ Thị Thiết (Thiếu Phụ Nam Xương),
    13- Công Chúa Ngọc Hân,
    14- Công Chúa Ngọc Vạn,
    15- Nữ Tướng Bùi Thị Xuân,
    16- Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm,
    17- Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương,
    18- Bà Huyện Thanh Quan,
    19- Thái Hậu Từ Dũ,
    20- Bà Tú Xương,
    21- Bà Nguyễn Thị Khuê (Sương Nguyệt Anh),
    22- Bà Ba Đề Thám,
    23- Bà Phan Bội Châu,
    24- Lê Thị Đàn (Ấu Triệu),
    25- Nguyễn Thị Bắc,
    26- Nguyễn Thị Giang,
    27- Thánh Mẫu Liễu Hạnh,
    28- Nàng Tô Thị.


    www.asianlabrys.com
    thay đổi nội dung bởi: bupbe_xjnh_vjaj, 02-04-2009 lúc 01:53 AM Lý do: sửa bố cục bài
    DIỄN ĐÀN XÂY DỰNG BẮC GIANG - www.xaydungbacgiang.vn
    DIỄN ĐÀN XÂY DỰNG 24H - www.xd24h.com
    Đại diện: KS. Phạm Duy Soát - Hotline : 0984.963.999

  2. Các thành viên Thích soat vì bài viết này:

    b0y_87_t1m_ngu0i_y3u (23-04-2009)

  3. #2
    Tham gia
    Aug 2008
    Cư trú
    Bức Tường Nền Tảng
    Bài viết
    755
    Thích
    603
    Được Thích 608 lần trong 278 bài
    Đã nhắc đến
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    cup

    Quốc Mẫu Âu Cơ (Khoảng 2800 Tr.TL)
    Theo truyền thuyết, khoảng gần 5000 năm trước, bà Âu Cơ dòng dõi tiên. kết duyên cùng vua Lạc Long dòng dõi rồng, sinh được 100 con trai là con rồng cháu tiên. Về sau, 50 con theo Cha Lạc Long xuống biển, 50 con theo Mẹ Âu Cơ lên núi, đi về phương nam lập ra nước Văn Lang, do người con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương, truyền được 18 đời . Người Việt Nam tôn vinh bà Âu Cơ là Quốc Mẫu. Trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, người Việt Nam đều nhớ đến ơn Quốc Mẫu Âu Cơ.



    Mẹ Âu Cơ, Cha Lạc Long (Tranh Vi Vi)


    Trưng Vương (40-43)

    Năm 40 thời Bắc thuộc, Thái Thú Tô Định bắt giết ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc, và đàn áp dân Lạc Việt. Vì nợ nước thù nhà, bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi dậy đánh đuổi Tô Định, đoạt 65 thành và 4 Quận, lên làm vua xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Triều đại Trưng Vương tuy chỉ ngắn ngủi 3 năm, nhưng đã chứng tỏ tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt, và mở đầu cho nền độc lập nước nhà. Hiện nay có nhiều đền thờ Hai Bà Trưng, và ngày lễ hội kỷ niệm hàng năm vào mồng 6 tháng hai âm lịch.


    Trưng Vương đánh đuổi quân Hán (Tranh Vi Vi)


    Công Chúa Hoàng Thiều Hoa (Danh tướng thời Trưng Vương)
    Bà Hoàng Thiều Hoa người huyện Gia Hưng, tỉnh Thanh Hoá (có sách chép là tỉnh Sơn Tây ngày nay). Không rõ năm sinh, năm mất. Bà là một nữ tướng tài giỏi của Hai Bà Trưng, giữ nhiệm vụ huấn luyện đoàn Nương tử quân. Khi Hai Bà Trưng đánh đuổi xong giặc Hán đô hộ, lên ngôi vua, đã phong tước cho bà là Thiều Hoa Công Chúa. Hiện nay đền thờ Công Chúa Thiều Hoa ở làng Hiếu Quan, huyện Tam Nông. Hàng năm lễ hội kỷ niệm vào các ngày 12, 13 tháng giêng âm lịch.


    Lê Chân (Danh tướng thời Trưng Vương)
    Lê Chân là nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng, người làng An Biên, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương. Không rõ năm sinh năm mất. Trong các trận đánh đuổi giặc Hán đô hộ, bà Lê Chân thường giữ chức tiên phong và nổi tiếng dũng cảm. Khi Hai Bà Trưng lên ngôi, đã giao việc Quốc phòng cho bà Lê Chân và phong làm Thánh Chân công chúa. Bà là người sáng chế ra môn thể thao “đánh phết” rất vui (vui ra phết). Các vua đời sau đều có sắc phong bà làm Thượng đẳng phúc thần công chúa. Hiện nay, đền thờ bà Lê Chân tại làng Mai Động (Hà Nội). Lễ hội kỷ niệm vào các ngày 4, 5 và 6 tháng giêng âm lịch, thường có tổ chức thi đấu vật và đánh phết.


    Bà Triệu (225-248)
    Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa năm 248, chống lại quân Đông Ngô cai trị tàn ác. Bà rất can đảm, thường nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì làm thiếp người ta”.
    Ra trận, Bà Triệu cưỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong, khiến quân Ngô phải khiếp sợ. Nghĩa quân tôn bà là Nhụy Kiều tướng quân. Bà Triệu đã anh dũng hy sinh năm 23 tuổi.Hiện nay có đền thờ Bà Triệu trên núi Gai (núi Ải), làng Phú Điền (Thanh Hóa), và lễ hội kỷ niệm vào ngày 21 tháng 2 âm lịch hàng năm.



    Bà Triệu Thị Trinh (Tranh Vi Vi)


    Thái Hậu Dương Vân Nga (942-1000)*
    Dương Hậu là chánh cung Hoàng hậu của vua Đinh Tiên Hoàng, húy là Dương Vân Nga. Khi vua Đinh bi tên Đỗ Thích đầu độc chết, con là Đinh Tuệ lên nối ngôi, bà trở thành Thái Hậu nhiếp chính.
    Nhà Tống nghe tin Đinh Tiên Hoàng mất, tự quân Đinh Tuệ còn nhỏ, nên đem quân sang xâm chiếm nước ta. Trước tình thế nguy cấp, Phạm Cự Lượng cùng một số tướng lãnh đã tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên ngôi để lo chống ngoại xâm. Thái Hậu Dương Vân Nga biểu đồng tình và sau đó trở thành chánh cung Hoàng Hậu của vua Lê Đại Hành. Nhờ tính cương nghị và thông hiểu tình thế, yên vị được triều chính, Dương Hậu đã giúp vua Lê đánh tan quân Tống. Hiện nay, tượng và đền thờ Dương Hậu tại đền vua Lê Đại Hành, ở làng Trường Yên (Ninh Bình), và lễ hội kỷ niệm cùng vào ngày kỷ niệm vua Đinh và vua Lê, 10 tháng 3 âm lịch (lễ hội Trường Yên).
    * Theo tài liệu của Hoàng Công Khanh (Hoàng Hậu hai triều Dương Vân Nga)


    Ỷ Lan Nguyên Phi (?-1117)
    Tên thật là Lê Thị Ỷ Lan, xuất thân từ gia đình nông dân, người làng Thổ Lỗi, Bắc Ninh. Tương truyền bà đứng tựa gốc lan trong khi mọi người trong làng nô nức ra xem đoàn xa giá của vua Lý Thánh Tông đi qua. Nhà vua cảm sắc đẹp và thái độ dửng dưng lạ lùng của bà, bèn tuyển về cung làm Ỷ Lan (dựa gốc lan) phu nhân. Sau bà sinh ra vua Lý Nhân Tông và trở thành Hoàng thái hậu.
    Thái Hậu Ỷ Lan đã giúp vua Lý Thánh Tông tạm thời nhiếp chính, trị nướùc kết quả tốt đẹp khi vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Bà cũng có lòng cứu giúp những người con gái nhà nghèo phải đi ở đợ, nên dân chúng thời bấy giờ xưng tụng bà là “Quan Âm”. Thái Hậu Ỷ Lan mất ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117) (Không rõ ngày sinh).


    Công Chúa Huyền Trân (cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14)
    Trần Thị Huyền Trân là con gái vua Trần Nhân Tông, em gái vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314). Không rõ ngày sinh ngày mất. Năm Bính Ngọ (1306), vua Trần Anh Tông nhận gả Huyền Trân cho vua Chiêm Chế Mân. Để đáp lễ, vua Chiêm dâng tặng Đại Việt 2 châu Ô và Lý. Huyền Trân về Chiêm được phong làm Hoàng Hậu. Hơn 1 năm sau, Chế Mân chết, theo tục lệ Chiêm Thành, Huyền Trân phải lên giàn hỏa. Vua Anh Tông sai tướng Trần Khắc Chung sang cứu. Tương truyền Trần Khắc Chung là người tình cũ của Công chúa Huyền Trân, do đó đã tạo nên một câu truyện tình lâm ly bi thiết trong sử Việt.
    Dù bị phê phán về nhiều mặt, do sự kỳ thị chủng tộc và nền giáo lý Khổng Mạnh khắt khe, công chúa Huyền Trân vẫn được dân chúng Việt Nam biết ơn về sự việc nàng mang về cho nước Đại Việt hai châu Ô Lý, mở đầu cho cuộc Nam tiến sau này.


    Công Chúa An Tư (thời vua Trần Nhân Tông)
    Bà là con gái út vua Trần Thánh Tông, em gái vua Trần Nhân Tông (1279-1293), không rõ năm sinh năm mất. Tháng 2 năm Ất dậu (1285), Thoát Hoan xâm lăng đánh thắng nhiều nơi, đồng thời có một số vương hầu nhà Trần hàng giặc. Để ngăn chặn bớt tính hung hãn của giặc, vua Trần Nhân Tông đã sai Trần Dương và Đào Kiện đưa quốc muội là công chúa An Tư gả cho Thoát Hoan.
    Ngoài chiến trường, dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Đại Vương, quân dân nước Nam cương quyết đánh giặc, trong khi đó dưới trướng Thoát Hoan, công chúa An Tư phải âm thầm nuốt nhục, hy sinh đời xuân sắc để trì hoãn sức giặc. Sự hy sinh của công chúa An Tư đã đóng góp phần nào cho cuộc chiến thắng quân Nguyên Mông dưới triều Trần, thế kỷ thứ mười ba.


    Nguyễn Thị Bích Châu (Thời vua Trần Duệ Tông)
    Bà là phi hậu triều vua Trần Duệ Tông ( trị vì 1372-1377), không rõ năm sinh năm mất. Trước đó khoảng 20 năm, cuối đời vua Trần Dụ Tông (trị vì 1341-1369), vì chính triều đổ nát, dân chúng lầm than, ông Chu Văn An đã dâng “Thất Trảm Sớ” đòi chém bẩy quyền thần gian nịnh. Bà phi hậu Bích Châu tuy là phận gái ở trong cung, cũng đã noi theo được tấm gương bất khuất của thầy Chu, can đảm dâng lên vua Duệ Tông bài “Kê Minh thập sách”, để cứu nguy xã tắc. Trong 10 điều (thập sách), có các điểm mạnh như sau: “Một là trừ kẻ bạo”, “Hai là tránh việc phiền nhiễu”, “Ba là trừ mọt nước”, “Bốn là đuổi bọn những lại”.
    Bà Nguyễn Thị Bích Châu chỉ là một cung nhân “dám nói ra những sự thối nát của chế độ giữa thời phong kiến toàn thịnh, kể thật can đảm và đáng khen lắm thay”. (Phạm Văn Sơn - Việt Sử Tân Biên)


    Lương Minh Nguyệt (Thời Lê Lợi kháng Minh)
    Bà là vợ Đinh Liệt (?-1471) (danh tướng của Bình Định Vương Lê Lợi), người làng Chuế Cầu, tỉnh Nam Định, có nhan sắc và giỏi nghề ca hát Ả đào. Trong thời gian Lê Lợi kháng Minh, bà đã mở quán rượu nổi tiếng ở gần thành Cổ Lộng (Đông Đô tức Thăng Long), cốt ý dò la tin giặc, giúp kháng chiến. Trong một cuộc tấn công thành Cổ Lộng, bà Minh Nguyệt đã cùng các cô gái tiếp viên phục rượu một số tướng Minh say mèm, và làm ám hiệu để quân Lam Sơn dưới quyền chỉ huy của tướng Lê Thạch chiếm được thành.
    Sau, Đinh Liệt được phong tước Quốc công, mang họ nhà vua (họ Lê), và bà là Nhất Phẩm Phu nhân. Các vua đời sau đều có sắc phong vợ chồng bà là Phúc thần. Theo tài liệu của Giáo Sư Trần Gia Phụng, bà Lương Thị Huệ có lẽ là một tên khác của bà Lương Minh Nguyệt (?), hiện có đền thờ tại huyện Thọ Xương và dân chúng còn gọi bà là Ngọc Kiều Phu nhân.


    Vũ Thị Thiết tức Thiếu Phụ Nam Xương (Đời Lê Thánh tông):
    Bà quê huyện Nam Xương (Hà Nam), là vợ chàng Trương, mới có thai thì chồng được gọi đi lính thú phương xa. Đứa bé trai sinh ra không biết mặt cha. Mỗi tối bà thường chỉ bóng mình trên vách mà dạy con chào hỏi cha trước khi đi ngủ. Ít lâu sau chàng Trương trở về, đứa bé thấy xa lạ và nói bố nó chỉ về lúc đêm tối. Chàng Trương nghi ngờ vợ ngoại tình, nên đã mắng nhiếc đuổi đi. Bà Thiết bị oan ức, lai không biết biện bạch ra sao, bèn nhẩy xuống sông Hoàng Giang (địa phận Nam Xương) tự tận. Đến tối thắp đèn lên, đứa bé mới chỉ bóng chàng Trương trên vách và nói rằng bố nó đã về. Chàng Trương lúc đó mới hiểu ra, nhưng đã trễ. Dân chúng biết chuyện người đàn bà tiết nghĩa chết oan, bèn lập miếu thờ. Vua Lê Thánh tông (1460-1497) tuần thú đi qua miếu, đã làm một bài thơ vịnh rất nổi tiếng, được khắc vào bia đá năm 1471, và truyền tụng đến ngày nay.


    Công chúa Ngọc Hân (1770-1799):
    Công Chúa Lê Thị Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông. Năm 16 tuổi, công chúa kết duyên với vị anh hùng Nguyễn Huệ, người có công diệt Trịnh Phù Lê và đánh đuổi quân xâm lăng Xiêm La và Mãn Thanh. Bà Ngọc Hân vừa xinh đẹp, lại có tài văn học, được Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ phong làm Bắc cung Hoàng Hậu. Khi vua Quang Trung đột ngột băng hà, bà rất buồn, đã sáng tác các bài “Văn tế vua Quang Trung” và “Ai Tư Vãn”, đóng góp cho kho tàng văn học Việt Nam những áng thơ hay và cảm động.



    Công chúa Ngọc Vạn (thế kỷ 17):
    Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Vạn là con của Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Nguyễn Đàng trong từ 1613-1635). Năm 1620, công chúa Ngọc Vạn kết hôn với vua Chân Lạp (Cambodia), và trở thành Hoàng Hậu vương quốc Chân Lạp, thủ đô lúc đó là Udong. Những tùy tùng của công chúa Ngọc Vạn đều được giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Chân Lạp. Năm 1623, Sãi Vương sai sứ bộ đến Udong, xin cho người Việt được định cư ở vùng Sài gòn ngày nay, và được buôn bán, mở khu dinh điền. Nhờ sự vận động của Hoàng Hậu Ngọc Vạn, các đề nghị của chúa Nguyễn đều được vua Chân Lạp chấp thuận.
    Công chúa Ngọc Vạn đã có công mở đường cho người Việt trong cuộc Nam tiến xuống đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng giang sơn như ngày nay.


    Nữ Tướng Bùi thị Xuân (?-1802)
    Bà là nữ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn, vợ danh tướng Trần Quang Diệu, quê tỉnh Bình Định. Trong các chiến trận của nhà Tây Sơn, vợ chồng bà đều lập được nhiều chiến công oanh liệt.
    Năm 1802 vua Gia Long thắng trận, bà bị hành hình bằng voi giày. Theo giáo sĩ La Bissache`re có mặt tại hiện trường, bà Bùi Thị Xuân rất can đảm, đã lấy vải quấn chặt người cho khỏi lộ liễu và đứng thẳng người trước mặt voi khiến voi phải sợ hãi lùi lại.
    Bà Bùi Thị Xuân đã đóng góp công lao với nhà Tây Sơn trong các cuộc chinh chiến, nhất là nhàTây Sơn đã dứt được họ Trịnh ở miền Bắc và dẹp tan các cuộc xâm lăng của Xiêm La và Mãn Thanh, nên Bà chiếm được nhiều cảm tình của dân chúng Việt Nam.


    Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1746):
    Bà sinh năm 1705, người tỉnh Bắc Ninh, rất giỏi văn thơ, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ. Năm 16 tuổi, bà được tiến cung làm phi tần, nhưng sau đó bà xin về, rồi làm chức giáo thụ ở cung cấm. Bà đã phải trải qua nhiều năm loạn lạc, sau kết hôn với tiến sĩ Nguyễn Kiều, người huyện Từ Liêm.
    Bà đã sáng tác “Tục Truyền Kỳ” hay “Truyền Kỳ Tân Phả” bằng chữ Nho và dịch “Chinh Phụ ngâm khúc” bản chữ Hán của Đặng Trần Côn.
    Khúc ngâm Chinh phụ bằng chữ nôm (quốc ngữ) theo thể th “song thất lục bát” đã diễn tả được tâm tình người phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh, vừa buồn lo khi chồng chinh chiến phương xa, vừa phải thay chồng gánh vác công việc gia đình, dạy dỗ con thơ, vừa phải lo giữ gìn phẩm hạnh.
    Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm mất ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (1746).


    Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1780-1820)*:
    Bà Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ 19, có tài văn thơ cả về chữ Nôm lẫn chữ Hán, con ông Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Thơ Nôm của bà thường chua chát, châm biếm và khinh mạn mọi giới. Thơ Hán của bà tuy cũng mang vẻ buồn, nhưng lại rất chừng mực và chứa chan tình cảm. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là thi sĩ Việt Nam duy nhất có tên trong “Từ Điển Văn Nhân Larousse”.
    * Theo “Những câu chuyện Việt Sử” - Trần Gia Phụng



    Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương (Tranh Vi Vi)


    Bà Huyện Thanh Quan (Đầu thế kỷ 19):
    Bà tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm (Hà Đông), lấy ông Cử Lưu Nghị (1804-1847) là Tri Huyện Thanh Quan ( nên thường gọi bà là bà Huyện Thanh Quan). Chồng bà mất năm 43 tuổi, bà vẫn ở vậy nuôi con. Triều vua Minh Mạng, bà được mời làm Cung Trung giáo tập, dạy cung phi và công chúa trong cung.
    Thơ bà Huyện Thanh Quan nổi tiếng thanh tao, trang nhã, ý nhị và điêu luyện, nghe man mác nỗi buồn hoài cổ, nhớ nước nhớ nhà như các bài “Qua Đèo Ngang Tức Cảnh”, “Thăng Long Hoài Cổ”, “Chiều Hôm Nhớ Nhà”.


    Thái Hậu Từ Dũ (1810-1902):
    Tên húy là Phạm Thị Hằng, người tỉnh Gia Định. Bà là con gái Quốc Công Phạm Đăng Hưng, được tiến cung năm 14 tuổi và trở thành quí phi của vua Thiệu Trị. Bà sinh ra vua Tự Đức nên trở thành Tháí Hậu, hiệu Từ Dũ Bát Huệ Thái hoàng Thái hậu.
    Theo Sử Gia Trần Trọng Kim, Thái Hậu Từ Dũ “thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng”. Đến đời vua Thành Thái, Bà được dâng tôn hiệu là Từ Dũ Bát Huệ Khương Thọ Thái thái hoàng thái hậu.
    Thái Hậu Từ Dũ là người quyền cao đức trọng thời nhà Nguyễn, đa nêu tấm gương tốt về đức hạnh cho hậu thế. Bà mất ngày 5 tháng 4 Nhâm Dần, thọ 92 tuổi.


    Bà Tú Xương (cuối thế kỷ 19):
    Bà họ Phạm, người tỉnh Hải Dương, là hiền thê nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương (1869-1907) tức Tú Xương. Bà là người mẹ hiền tiêu biểu cho những bà mẹ quê Việt Nam chỉ biết một đời tận tụy cho chồng, cho con, không nề hà gì đến chính bản thân mình, đúng như lời thơ của Tú Xương đã diễn tả:
    “Quanh năm buôn bán ở mom sông”
    “Nuôi-nấng năm con với một chồng”
    “Lặn-lội thân cò khi quãng vắng”
    “Eo-sèo mặt nước, buổi đò đông”
    Bà Tú Xương quả đúng là một Hiền phụ Việt Nam.


    Bà Sương Nguyệt Anh (1863-1921)
    Bà Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Khuê, sinh ngày 24 tháng 12 năm Quí Hợi (1863) tại Gia Định, con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu tức Đồ Chiểu. Bà có nhan sắc xinh đẹp, lại có tài văn chương, đoan trang, tiết hạnh, nhưng lập gia đình trễ. Trên 25 tuổi bà mới kết hôn, sinh được một gái thì chồng chết. Bà ở vậy nuôi con, vui với thơ văn, lấy bút hiệu là Sương Nguyệt Anh (nghĩa là người sương phụ, thủ tiết thờ chồng). Bà viết
    “Gương tỏ đời nay trong tiết phụ”
    “Lâu dài tiếng tốt tạc tạc non sông”
    Bà rất hay chữ, giỏi thơ, nổi danh ở miền Nam, và làm chủ bút tuần báo “Nữ Giới Chung” Sài Gòn, là tuần báo đầu tiên ở nước ta. Bà Sương Nguyệt Anh mất ngày 12 tháng 11 âm lịch (4 tháng 1 năm 1921), hưởng dương 58 tuổi.
    (Theo tài liệu của Lãng Nhân trong “Hương Sắc Quê Mình”, và tài liệu của Hồ Trường An – Giai Phẩm Sương Nguyệt Anh – 2002)


    Bà Sương Nguyệt Anh tấm gương tiết hạnh (Tranh Bé Ký)


    Bà Ba Đề Thám (cuối thế kỷ 19):

    Bà tên thật là Đặng Thị Nhu (còn có tên là Đặng Thị Nho tức Bà Ba Cẩn), vợ thứ ba của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám (Đề Thám). Bà là một nữ tướng rất can trường, cùng sát cách với chồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại Yên Thế cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ngày 1-2-1909, bà và con gái là Hoàng Thị Thế bị Pháp bắt và đầy đi Guyanne thuộc Pháp ở Nam Mỹ. Tương truyền, trên đường lưu đầy bà Ba Đề Thám đã nhẩy xuống biển tự tận, noi gương bất khuất của Bà Trưng Bà Triệu.


    Bà Phan Bội Châu (1866-1936):
    Bà tên thật là Thái Thị Huyên vợ nhà Cách Mạng yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940), người làng Diên Lân, tỉnh Nghệ An. Bà làm dâu nhà họ Phan năm 23 tuổi, đã hết lòng giữ trọn đạo dâu hiền. Chồng thi đỗ Giải Nguyên, bà vẫn giữ nếp nhà, sống đời bình dị, lo cho chồng cho con. Chồng bà xuất dương cứu nước hơn 20 năm, bà vẫn giữ lòng chung thủy, vò võ nuôi con. Khi ông Phan Bội Châu bị bắt về nước năm 1925, bà được gặp mặt chồng nửa tiếng đồng hồ tại Nghệ An rồi lại xa cách cho đến lúc mãn phần. Trong mấy lời chia tay, bà đã nói: “Vợ chồng ly biệt nhau hơn 20 năm, nay được một lần giáp mặt Thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây trở về sau, chỉ mong Thầy giữ được lòng xưa”.
    Bà Phan Bội Châu là tấm gương sáng của người Phụ Nữ Việt Nam, một lòng trung trinh tiết hạnh, thờ chồng nuôi con, giúp cho chồng con giữ vững tinh thần trên bước đường dấn thân cứu nước. Hiền Phụ Thái Thị Huyên mất ngày 1 tháng 4 âm lịch (21-5-1936), thọ 70 tuổi.


    Bà Lê Thị Đàn (Ấu Triệu) (Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20):
    ‘Người tỉnh Thừa Thiên, hoạt động tích cực trong Duy tân hội tại Huế, được Phan Bội Châu đặt biệt danh là “Ấu Triệu” tức “Triệu nhỏ” (ý so sánh với bà Triệu lớn tức bà Triệu Thị Trinh). Bà phụ trách liên lạc, chuyển vận thư từ, tiền bạc cho những nhà hoạt động cách mạng khắp các nơi ở Trung phần. Năm 1910, bị Pháp bắt, bà tự tử trong tù tại Quảng Trị’ (Trần Gia Phụng - Những câu chuyện Việt sử).


    Nguyễn Thị Bắc (Liệt sĩ cận đại):
    Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang là hai chị em ruột, quê ở Bắc Giang, tục gọi là Cô Bắc, Cô Giang, đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, chi bộ Bắc Giang. Cô Bắc cùng với Cô Giang làm liên lạc và tuyên truyền, hoạt động rất tích cực. Năm 1930, sau khi cuôc khởi nghĩa Yên Bái do Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học lãnh đạo bị thất bại, Cô Bắc bị Pháp bắt và đưa ra xét xử trước Hội đồng đề hình Pháp. Cô đã hiên ngang chỉ trích chế độ Thực dân Pháp tại Đông Dương và nói: “Các ông hãy về Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d'Arc đi” (Jeanne d'Arc là một nữ anh hùng Pháp), khiến người Pháp phải kiêng nể tinh thần bất khuất của người Phụ nữ Việt Nam.


    Nguyễn Thị Giang (?-1930) (Liệt sĩ cận đại):
    Cô Giang là vị hôn thê của lãnh tụ Nguyễn Thái Học, Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cô là một đảng viên rất đắc lực, đã cùng với cô Bắc hoat động tuyên truyền liên lạc giữa các cơ sở đảng ở Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Vĩnh Yên. Năm 1929, Cô Giang gặp Nguyễn Thái Học và hai người cùng chí hướng đã yêu nhau.
    Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Pháp đưa lên máy chém ở Yên Bái, Cô Giang đã đến tận pháp trường để chứng kiến cái chết anh dũng của người yêu và 12 đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau đó Cô về nhà trọ viết thư tuyệt mệnh gửi song thân và gửi hương hồn Nguyễn Thái Học, trong dó có câu: “Anh đã là người yêu nước, không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước. Anh giữ lấy linh hồn cao cả để về dưới suối vàng chiêu binh rèn súng đánh đuổi quân thù.” Cô Giang còn làm một bài thơ lục bát, tỏ rõ ý chí hy sinh vì nước, sau đó đã dùng súng lục tự tử để bảo toàn danh tiết và bảo toàn bí mật cho đảng.
    Trước khí tiết hiên ngang bất khuất của Cô giang và Cô Bắc, người đời sau ai cũng ngậm ngùi thương tiếc.


    Thánh Mẫu Liễu Hạnh (thế kỷ 16):
    Là nhân vật thần thoại, được người đời sùng bái, xưng tụng là Liễu Hạnh Công chúa hay Thánh mẫu đền Sòng (Sòng Sơn, Thanh Hóa).
    Theo Truyền thuyết, Liễu Hạnh Công chúa chính là Công chúa Quỳnh Nương trên Thiên Đình, bị giáng xuống trần làm con gái một vị quan triều Hậu Lê, mang tên là Lê Thị Giáng Tiên, quê làng Vân Cát, huyện Vân Cát (Phủ Giầy), Nam Định. Giáng Tiên rất xinh đẹp, giỏi thơ văn, đàn sáo và soạn nhiều bài hát rất hay, kết duyên với Đào Lang năm 18 tuổi. Được 3 năm, Giáng Tiên đã đột ngột từ trần, trở về thượng giới. Nhưng vì chưa hết hạn đi đầy, Giáng Tiên lại giáng xuống trần, đổi tên là Liễu Hạnh cùng với hai ngọc nữ Quế Nương và Thị Nương. Ba người hiện xuống một làng ở Thanh Hoá, đi khắp các nơi cứu nhân độ thế và nhiều lần hiển linh cứu giúp dân lành, hoặc làm thơ xướng hoạ với các danh sĩ thời đó.
    Sau khi trở về trời, Bà Liễu Hạnh được dân chúng suy tôn là Mẫu Nghi thiên hạ, và được vua Lê sắc phong là Thượng Đẳng tối linh thần. Dân chúng lập đền thờ tại những nơi bà đã đi qua như Phủ Giầy ở Nam Định. Đền Sòng ở Thanh Hóa và Tây Hồ ở Thăng Long. Lễ hội từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch.


    Nàng Tô Thị
    Nàng Tô Thị là tên một hiền phụ trong truyền thuyết, lai lịch có thể xuất phát từ tỉnh Lạng Sơn, theo câu ca dao:
    “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa”
    “Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”
    Đồng Đăng là một thị trấn sát biên giới Hoa Việt thông qua cửa ải Nam Quan , nơi trấn đóng của lính thú đời xưa lo gìn giữ biên cương. Phố Kỳ Lừa có chợ Kỳ Lừa, đọc trại từ tiếng Thổ “háng Khau-lừ” có nghĩa là “chợ đồi con lừa” là nơi sinh hoạt, buôn bán sầm uất của xứ Lạng thời bấy giờ. Động Tam Thanh là một hang động đẹp nổi tiếng ở Lạng Sơn, trong đó có một ngôi chùa cổ. Trên hòn núi đá gần khu động Tam Thanh có một tảng đá thiên nhiên nhô ra, chênh vênh trông giống như hình tượng một thiếu phụ đứng nhìn về phía biên cương, mòn mỏi chờ chồng chinh chiến trở về: Người ta gọi đó là nàng Tô Thị, đứng chờ chồng lâu ngày đã hoá thành đá. Cũng có truyền thuyết cho rằng “đó là người con gái họ Tô, bồng con đợi chồng lâu ngày đến nỗi hóa đá, thành hòn núi Vọng Phu” (Trần Gia Phụng - Những Câu Chuyện Việt Sử).
    Nàng Tô Thị chính là hình ảnh của người phụ nữ trung trinh, những hiền phụ Việt Nam, luôn luôn giữ lòng chung thủy, là nguồn an ủi của những người lính thú xa nhà, đồng thời cũng là hình ảnh những chinh phụ vô danh Việt Nam, lo toan việc nhà, thờ mẹ nuôi con trong khi chồng chinh chiến phương xa.

    Kết Luận:

    Phụ nữ Việt Nam trong truyền thuyết đều là những người đàn bà nổi tiếng tài ba, những anh thư hào hùng bất khuất, những hiền phụ hết lòng hết dạ lo cho chồng cho con. Đó là những vị Vua, những vị Thái hậu, Hoàng hậu, những Công chúa, những Nữ văn nhân, Thi sĩ, những Nữ tướng, những Sương phụ, Tiết phụ và những Bà Mẹ Việt Nam kể cả những người Con Gái Việt Nam không tên tuổi, nhưng đều mang dòng máu Tiên Rồng, trung trinh tiết hạnh, được dân tộc Việt Nam truyền tụng, sùng bái và tin tưởng.

    Mục đích “vinh danh những Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam”, trước hết là để chứng minh người phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa đã là những người đáng kính phục cả về tài ba lẫn đức hạnh và những người phụ nữ có công với đất nước, sau nữa là để nêu lên những tấm gương sáng cho hậu thế, nhất là giới trẻ Việt Nam, được soi chung.

    Bảng đề nghị danh sách “Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam” nêu trên chỉ là một bài viết có tính cách phổ biến tài liệu của các nhà biên khảo. Cũng vì thế, bảng đề nghị này, do cá nhân biên soạn, phần nào theo cảm tính riêng, nên không tránh khỏi sự thiếu sót. Chúng tôi kính mong được sự chỉ giáo của các vị cao minh.



    Sách tham khảo:

    Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim - Nhà Xuất bản Miền Nam
    Những Câu Chuyện Việt Sử - Trần Gia Phụng - Tập 2 - Toronto, Canada-1999.
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội.
    Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam - Nguyễn Q. thắng, Nguyễn Bá Thế - Nhà XB Văn Hóa.
    Non Nước Việt Nam - Sách hướng dẫn Du Lịch.
    Sơ thảo Địa Lý Tỉnh Lạng Sơn - Do các giáo Viên Lạng sơn biên soạn - LS tháng 5 năm 1955.
    Việt Sử Tân Biên - Phạm Văn Sơn - Tủ Sách Sử Học Việt Nam
    Hoàng hậu Hai Triều Dương Vân Nga - Hoàng Công Khanh - Nhà XB Văn Học.
    “Liễu Hạnh Tiên Chúa” - Bưu Văn Phan Kế Bính - Bài viết phổ biến trên Internet.
    Hội Hè Đình Đám (Quyển Thượng) - Toan Ánh
    Tài liệu của Lãng Nhân (Hương Sắc Quê Mình) - Hồ Trường An (Giai Phẩm SNA 2002)
    DIỄN ĐÀN XÂY DỰNG BẮC GIANG - www.xaydungbacgiang.vn
    DIỄN ĐÀN XÂY DỰNG 24H - www.xd24h.com
    Đại diện: KS. Phạm Duy Soát - Hotline : 0984.963.999

  4. Có 5 thành viên Thích soat vì bài viết này:

    b0y_87_t1m_ngu0i_y3u (23-04-2009), chip_pro (08-04-2009), Luân Kute (02-04-2009), NgocMai_bg (02-04-2009), traixit (02-04-2009)

  5. #3
    Tham gia
    Mar 2009
    Cư trú
    VNU
    Tuổi
    24
    Bài viết
    3,218
    Thích
    1,466
    Được Thích 2,957 lần trong 1,318 bài
    Đã nhắc đến
    3 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Mặc định

    em sẽ cố gắng từ nay đến cuối đời , phải có danh giề cho....núi sông, ít nhất cũng phả có cái mép sử sách viết tên em chớ
    Sống là không chờ đợi !



  6. #4
    Tham gia
    Apr 2008
    Cư trú
    Hôm qua
    Bài viết
    1,904
    Thích
    263
    Được Thích 335 lần trong 253 bài
    Đã nhắc đến
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Mặc định

    sắp xếp logic tí
    thời gian,không gian nữa.
    chúc Soat thành công
    Đừng buồn khi thấy bạn gái cũ đi với người con trai khác. Vì ngày con bé ta đã đc dạy rằng cần cho đi ĐỒ CHƠI CŨ cho nhữn NGƯỜI KÉM MAY MẮN

  7. #5
    Tham gia
    Apr 2008
    Cư trú
    Hôm qua
    Bài viết
    1,904
    Thích
    263
    Được Thích 335 lần trong 253 bài
    Đã nhắc đến
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Mặc định

    đính chính tí nữa về nàng Tô Thị đi : truyển thuyết ra làm sao.anh em gặp nhau ra làm sao
    Đừng buồn khi thấy bạn gái cũ đi với người con trai khác. Vì ngày con bé ta đã đc dạy rằng cần cho đi ĐỒ CHƠI CŨ cho nhữn NGƯỜI KÉM MAY MẮN

  8. #6
    Tham gia
    Feb 2009
    Cư trú
    Cái Bang!
    Bài viết
    4,075
    Thích
    1,369
    Được Thích 1,733 lần trong 1,039 bài
    Đã nhắc đến
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Mặc định

    Em thấy bác chỉ cho mấy bà thời xưa vào mà ko thấy thời chống pháp, mĩ hay thời nay nhỉ?

    em cóp một chút nhé!

    Hội liên hiệp Phụ nữ - Việt nam
    Ngời sáng phong trào Nữ du kích Hoàng Ngân anh hùng
    17:6' 3/3/2008

    Tỉnh Hưng Yên có truyền thống cách mạng kiên cường trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

    Nhân dân Hưng Yên giàu truyền thống văn hiến cách mạng, trên mảnh đất ‘‘địa linh nhân kiệt’’ này đã sản sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng, chính nơi đây cũng là quê hương của phong trào ‘‘Nữ du kích Hoàng Ngân’’ với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Lực lượng Nữ du kích Hoàng Ngân Hưng Yên đã lập được nhiều chiến công, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc. Thành tích ấy không chỉ tính bằng số trận đánh làm cho giặc Pháp bao phen khiếp vía kinh hồn, số địch bị tiêu diệt, lượng vũ khí thu được từ tay địch... mà hơn tất cả là ở lòng căm thù giặc, sự mưu trí dũng cảm, sự kiên cường bất khuất, không chịu lùi bước trước kẻ thù của các chị, các mẹ.



    Trước khi phong trào Nữ du kích Hoàng Ngân ra đời, đầu năm 1947, trung đội nữ du kích Trưng Trắc đã được thành lập, đó là trung đội nữ du kích tập trung đầu tiên của Hưng Yên, tiền thân của đội ‘‘Nữ du kích Hoàng Ngân’’ đã đánh nhiều trận, tiêu diệt nhiều địch và tổ chức được nhiều cuộc diễn thuyết, tuyên truyền vận động nhân dân, gây được tiếng vang lớn. Đầu năm 1950, theo yêu cầu nhiệm vụ chung của cuộc kháng chiến, lực lượng du kích đã phát triển mạnh mẽ ở khắp các thôn, xã trong toàn tỉnh, phong trào ngày càng lan rộng thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ tham gia.



    Ngày 02/02/1950, tại thôn Muội Sảng, xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hội phụ nữ Hưng Yên đã tổ chức lễ truy điệu chị Hoàng Ngân – Bí thư Trung ương Đoàn phụ nữ cứu quốc Việt Nam. Để học tập tinh thần chiến đấu chống kẻ thù xâm lược của chị Hoàng Ngân, đồng thời cổ vũ, động viên tinh thần đấu tranh cách mạng của phụ nữ Hưng Yên, toàn thể chị em dự lễ truy điệu đã thống nhất đề nghị Tỉnh uỷ Hưng Yên cho thành lập ‘‘đội Nữ du kích Hoàng Ngân’’ là một bộ phận của lực lượng vũ trang trong tỉnh, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và tỉnh đội Hưng Yên (nay là Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên). Ngày 09/12/1950, tại Thái Bình, Tỉnh uỷ Hưng Yên họp Hội nghị đặc biệt ra Nghị quyết xây dựng đội Nữ du kích Hoàng Ngân của tỉnh.



    Tỉnh uỷ giao cho Tỉnh đội và Tỉnh Hội phụ nữ phối hợp mở trường đào tạo – phát triển cán bộ lấy tên là ‘‘Trường Hoàng Ngân’’ và ‘‘Đội Nữ du kích Hoàng Ngân’’ được tổ chức thành hệ thống từ xã, huyện, tỉnh. Từ đây phong trào Nữ du kích Hoàng Ngân phát triển mạnh mẽ, chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 2/1950 đến tháng 7/1952 đội nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên đã có 7.365 chị em tham gia.



    Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược, lực lượng Nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên thực sự là lực lượng chiến đấu giữ vai trò quan trọng trong thế trận chiến tranh nhân dân, đã lập nhiều chiến công lẫy lừng, phát huy được vai trò đấu tranh hợp pháp, làm tốt nhiệm vụ giao thông liên lạc, đưa đón cán bộ, trinh sát nắm tình hình địch, xây dựng cơ sở, vận động nguỵ binh, gây nhân mối làm nội ứng trong trong các đồn bốt địch, nuôi dưỡng chăm sóc thương binh, tham gia cùng với quân và dân trong tỉnh đánh hơn 1.000 trận thắng lợi làm cho địch phải nhiều phen khiếp vía kinh hoàng. Đó không những là niềm tự hào lớn lao của phụ nữ Việt Nam mà còn ghi sâu vào tâm tưởng của những người dân Hưng Yên, một nét độc đáo, một ấn tượng sâu sắc, khó quên về người phụ nữ, bề ngoài rất hiền lành bình dị, nhưng lại thông minh, mưu trí, táo bạo dũng cảm trước kẻ thù, sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ hy sinh mất mát để giữ vững chính quyền cách mạng, chiến thắng kẻ thù xâm lược. Đã có hàng trăm nữ du kích Hoàng Ngân chiến đấu, anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, tiêu biểu là nữ Anh hùng liệt sĩ Bùi Thị Cúc, Trần Thị Tý, Vũ Thị Kính (tức Trần Thị Khang), đặc biệt chị Bùi Thị Cúc đã được Bác Hồ tặng 6 chữ vàng “Sống anh dũng, chết vẻ vang” và biết bao nhiêu phụ nữ trung kiên trong chiến đấu, hình ảnh và tên tuổi các chị còn mãi mãi lưu truyền cho các thế hệ phụ nữ Việt Nam và nhân dân Hưng Yên noi theo. Đội nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên xứng đáng được đồng chí Nguyễn Thị Thập, nguyên Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam đọc tặng 4 câu thơ của đồng chí Xuân Thuỷ tặng phụ nữ Việt Nam:



    ‘‘ Vừa hiền, vừa dịu lại vừa tươi

    Mà lúc xông pha mạnh tuyệt vời

    Đánh giặc, lo nhà, xây dựng nước

    Đảm đang lừng lẫy bốn phương trời’’



    Các chị mãi là niềm tự hào của của nhân dân, của phụ nữ và của lực lượng vũ trang tỉnh Hưng Yên, như lời đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã nói: ‘‘Nữ du kích Hoàng Ngân là biểu tượng sinh động trong muôn vàn tấm gương tiêu biểu cho truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ Việt Nam nói chung, nhất là phụ nữ trong thời đại Hồ Chí Minh. Du kích Hoàng Ngân còn là bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một trang sử vàng chói lọi, một bài học lớn trong chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, có tác dụng to lớn trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vĩ đại của dân tộc. Bài học đó – bài học về công tác phụ vận của Đảng vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới’’. (Trích lời giới thiệu của đồng chí Đỗ Mười trong cuốn Nữ du kích Hoàng Ngân – NXB Quân đội Nhân dân, năm 1996).



    Do có những thành tích xuất sắc, đội Nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên đã được cử 01 trung đội đại diện cho Nư du kích các tỉnh Miền Bắc tham gia cuộc diễu binh lớn, chào mừng Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về thủ đô sau 9 năm kháng chiến, nhân dịp Quốc khánh 02/9/1955. Đội Nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên được Bộ Quốc phòng chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm phổ biến cho các tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam và Miền Bắc.



    Tổng kết cuộc kháng chiến chống pháp, Nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên đã được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương chiến công Hạng 3; có 3 Nữ du kích Hoàng Ngân là liệt sĩ được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ; 25 chị được tặng huy hiệu Bác Hồ và hàng chục ngàn chị em được tặng thưởng Huân chương, huy chương, bằng, giấy khen; 77.000 phụ nữ đạt danh hiệu 3 đảm đang; 30 đơn vị dân quân tự vệ nữ đạt danh hiệu đơn vị quyết tháng 3 năm liền.



    Ngày 10/4/2001, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký quyết định số 287/2001/QĐ - CTN phong tặng Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho lực lượng nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên. Được sự nhất trí của Thường trực Tỉnh uỷ Hưng Yên, ngày 20/12/2001, Ban chấp hành Hội LHPN tỉnh Hưng Yên đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho lực lượng nữ du kích Hoàng Ngân.Đây là phần thưởng cao quý, là niềm tự hào của các thế hệ phụ nữ Hưng Yên nói riêng và nhân dân Hưng Yên nói chung.



    Phát huy truyền thống cách mạng của lực lượng Nữ du kích Hoàng Ngân năm xưa, các tầng lớp phụ nữ Hưng Yên hôm nay nguyện sống xứng đáng với các thế hệ đi trước, không ngừng học tập, rèn luyện vươn lên về mọi mặt, luôn phát huy vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của con người, dù ở những cương vị, ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, bằng bản lĩnh, nghị lực, tài năng, phẩm chất tốt đẹp của mình luôn tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, góp phần thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X.

    (Trần Thị Tuyết Hương - Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Hưng Yên)
    Lang Thang Một Kiếp Người

  9. #7
    Tham gia
    Feb 2009
    Cư trú
    Cái Bang!
    Bài viết
    4,075
    Thích
    1,369
    Được Thích 1,733 lần trong 1,039 bài
    Đã nhắc đến
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Mặc định

    Phụ nữ trong kháng chiến Chống mỹ!

    Phụ nữ miền Nam đã phát huy được ưu thế của giới mình trong cả 3 mũi giáp công



    Ba mũi giáp công được vận dụng một cách nhuần nhuyễn trong từng cuộc chiến đấu, trong từng chiến dịch và suốt cả một thời kỳ vận động cách mạng, được xem là bửu bối, là chiến thuật, chiến pháp, là vũ khí lợi hại của lực lượng cách mạng, mà chị em phụ nữ sử dụng có hiệu quả nhất.

    Trong từng cuộc, kết hợp với hoạt động của lực lượng vũ trang, phụ nữ đã chuẩn bị gậy gộc, dao mác, dây, súng bập dừa, mõ, trống, phèng la, đốt ống lói, ban đêm áp đảo tinh thần kẻ địch, ban ngày kéo nhau thành đoàn biểu tình tiến thẳng vào các công sở, đồn bốt vừa đấu tranh trực diện, vừa lôi kéo, làm tan rã các lực lượng kìm kẹp của địch. Hình thức "tản cư ngược" của chị em khi địch tổ chức càn quét lớn vào các vùng nông thôn giải phóng, mở đầu từ trận chống càn Định Thủy tháng 1 -1960, đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các tỉnh, các vùng nông thôn khác ở miền Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh đặc biệt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn (1960 - 1965). Sự ra đời của "đội quân tóc dài" là sự sáng tạo độc đáo của đường lối đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang trong cách mạng miền Nam, làm cho sức mạnh của phong trào phụ nữ miền Nam được nhân lên gấp nhiều lần, đủ sức đảm bảo cho phong trào đấu tranh thắng lợi.

    Đối với binh lính, các chị lôi kéo chồng, con, em mình bỏ ngũ, giải thích chính nghĩa cho binh lính, hù dọa làm cho chúng hạ súng, bỏ đồn, cao hơn là giác ngộ cách mạng, xây dựng tổ chức ngay trong lòng địch. Khả năng binh vận của chị em đã đạt hiệu quả rất cao vì đó là tiếng nói từ đáy lòng người mẹ, người vợ, đã giải phóõng chồng, con, em mình ra khỏi cảnh chết chóc, làm bia đỡ đạn thay cho bọn cướp nước và bán nước.



    Phụ nữ miền Nam với chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ (1966 -1975)



    Trong chiến tranh cục bộ, nhân dân miền Nam phải đương đầu trực tiếp với đội quân viễn chinh Mỹ và chư hầu mà tính chất, cường độ của chiến tranh cực kỳ ác liệt. Thế nhưng, phong trào đấu tranh chính trị của phụ nữ vẫn phát triển cả ở nông thôn và thành thị.

    Ở nông thôn có thêm các khẩu hiệu, hình thức và hành động mới như: các mẹ, các chị cản đầu xe M113 không cho xe cán lúa, cán hoa màu, cản xe ủi đất không cho ủi nhà, bịt nòng súng không cho bắn vào xóm làng, níu kéo lính Mỹ khi chúng đốt nhà, chống lính Mỹ hiếp phụ nữ, chống bắt thanh niên đi lính để làm bia đỡ đạn cho giặc Mỹ. Mặt khác, đồng bào và chị em đã khéo léo khai thác những mâu thuẫn sâu sắc giữa quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, khêu gợi tinh thần dân tộc chống Mỹ xâm lược, chống bọn bán nước, chống lệnh đi càn, đòi giải ngũ, đòi hòa bình, độc lập. Đối với lính Mỹ và quân các nước chư hầu, phong trào đấu tranh chính trị ở khắp miền Nam chống chiến tranh xâm lược đã khơi sâu tâm trạng hoang mang, chán nản, bất mãn chống cuộc chiến tranh phi nghĩa, khuyến khích những hành động phản kháng chống đốt phá, giết người, cướp của, đòi về nước...

    Ở các thành thị, nhiều phong trào mở đầu do lực lượng phụ nữ, như phong trào Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, Bảo vệồ văn hóa dân tộc, bài trừ văn hóa ngoại lai đồi trụy, đã lôi kéo đông đảo các tầng lớp, từ công nhân lao động, đến thanh niên trí thức, nhân sĩ, các nhà tư sản dân tộc, các chức sắc trong các tôn giáo... tham gia.

    Trong phong trào thanh niên học sinh, sinh viên những năm chống chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh, vai trò của nữ sinh viên nổi bật bên cạnh nam thanh niên chiến đấu trên đường phố chống bom cay, dùi cui của cảnh sát dã chiến, làm đầu mối xung kích tiếp tế cho lực lượng thanh niên chiếm tòa đại sứ Lonnon phản đối việc tàn sát Việt kiều ở Camphuchia, trong đó nổi bật vai trò của các ni cô Tịnh xá Ngọc Phương dưới sự lãnh đạo của ni sư Huỳnh Liên, đặt biệt chiến dịch đốt xe Mỹ do chính một nữ sinh viên chỉ huy.

    Từ năm 1965 đến năm 1975, ở thành thị nhiều tổ chức phụ nữ đã hình thành và tham gia đấu tranh như: Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền sống, Giáo hội khất sĩ nữ giới Việt Nam, Đoàn nữ phật tử Long Hoa, Hội nữ phật tử Việt Nam, Đoàn nữ phật tử giáo chức, Nghiệp đoàn tiểu thương 36 chợ đô thành, Hội các bà mẹ có con ở tù, v.v... Nhiều cuộc đấu tranh với các hình thức độc đáo do các chị tổ chức như cuộc biểu tình ngồi của ni sư và phụ nữ ở ngay trung tâm thành phố. Suốt năm 1974, các cuộc đấu tranh của chị em tiểu thương 36 chợ Sài Gòn lôi cuốn cả chị em tiểu thương ở các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ. Sau khi Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris và rút quân, phong trào đấu tranh chính trị ở thành thị, nông thôn kết hợp với hoạt động vũ trang càng sôi nổi, nhất là vào những năm tháng cuối của cuộc chiến tranh.

    Thời gian này tinh thần của binh lính và sĩ quan quân đội Sài Gòn ngày càng rệu rã; hoạt động binh vận của các mẹ, các chị đối với những người thân đã có tác dụng thật to lớn khi cuộc chiến sắp đến ngày kết thúc. Chỉ tính riêng ở một số tỉnh Nam Bộ trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 -1975 đã có trên 50.000 binh sĩ, sĩ quan địch đào ngũ. Và hiện tượng tan rã đồng loạt của 40 vạn quân địch trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, không phải không có công lao tác động về tinh thần của những người mẹ, người vợ, người chị... miền Nam.



    Có phải chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ?



    Bản chất của người phụ nữ bất kể thuộc dân tộc nào, thời đại nào, đều yêu hòa bình, sản sinh và nuôi dưỡng những con người của các thế hệ nối tiếp nhau, và hầu như đều có chung một nguyện ước: loài người sống bình an bên nhau. Chiến tranh đã đem đến cho người phụ nữ ở bất cứ đất nước nào, những đau khổ lớn hơn nam giới gấp nhiều lần. Việt Nam có câu "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh". Khi người phụ nữ bắt buộc phải cầm vũ khí thì ý nghĩa của cuộc chiến đấu đó thật là sâu sắc, vì họ cầm vũ khí chính là để bảo vệ hòa bình, giữ gìn sự sống cho những con người chân chính mà họ đã sinh ra, chống lại những thế lực phi nhân muốn hủy hoại con người.

    Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt nam, phụ nữ miền Nam là lực lượng xung kích, là "đội quân tóc dài" trên mặt trận đấu tranh chính trị; trong đấu tranh vũ trang, phụ nữ miền Nam cũng không kém nam giới về mưu trí và lòng dũng cảm. Chị Nguyễn Thị Định, Hội trưởng Hội Liên Hiệp Phụ Nữ giải phóng miền Nam Việt Nam, vừa là Phó tư lệnh Lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam, cùng với hàng trăm nữ anh hùng lực lượng vũ trang sản sinh ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ (chỉ riêng Nam Bộ đã có 51 nữ anh hùng được tuyên dương) là những minh chứng. "Người mẹ cầm súng", đó là một biểu tượng dường như nghịch lý, nhưng rất chân thực, thể hiện sự hòa hợp của tính chất rất anh hùng mà cũng rất mực nhân hậu trong người phụ nữ Việt Nam.



    Phụ nữ miền Nam ở chiến trường đô thị



    Ở thành thị, các đội đặc công, biệt động nữ cũng đã thực hiện nhiều trận đánh vào cơ quan đầu não của địch; nữ biệt động Sài Gòn cùng với một số đơn vị bạn đánh vào nơi ở của số sĩ quan, binh lính Mỹ như khách sạn Brink, Caravelle....Trong chiến dịch Mậu Thân 1968 biệt động nữ đã lọt vào được nhiều cứ điểm quan trọng như bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, tòa Đại sứ Mỹ. Tiểu đoàn Lê Thị Riêng trước đó thường hoạt động ở vùng Bến Cảng, Vĩnh Hội, Xóm Củi, do chi Lê Thị Bạch Cát làm tiểu đoàn trưởng, trong chiến dịch Mậu Thân 1968 đã trực tiếp đánh vào trại Quyết Tiến và sân bay Tân Sơn Nhất. Đội nữ dũng sĩ thành phố Đà Nẵng đã đương đầu với hàng tiểu đoàn hiến binh và cảnh sát địch bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. Tiểu đội nữ tự vệ Huế gồm 11 người đã đánh bại cả một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ diệt hơn 100 tên.

    Trong những năm sau Mậu Thân, phụ nữ thành phố vẫn tiếp tục phát huy ưu thế của mình, đánh địch trong nội thành Sài Gòn, như tiến công cư xá sĩ quan Mỹ đường Trần Hưng Đạo, khách sạn Kỳ Sơn, tòa hành chính Gia Định, nhà hàng Mỹ Phụng, khách sạn Tự Do. Nữ biệt động các thành phố Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt và nhiều thị xã như Bến Tre, Cà Mau, Tây Ninh, Đồng Nai... cũng đã lập được nhiều chiến công.

    Cũng phải kể đến chiến dịch đốt xe Mỹ của phong trào học sinh, sinh viên Sài gòn trong những năm Mậu Thân do nữ dinh viên Võ Thị Bạch Tuyết làm thủ lĩnh. Đây là một hoạt động đánh địch sáng tạo ngay trong thành phố trung tâm đầu não địch. Lực lượng chiến đấu thiên biến vạn hóa, bằng các đội xung kích "Sao Băng", "Sao Chổi", "Trường Sơn", "Ký Con",v.v... xuất hiện khắp nơi khiến lính Mỹ phải khiếp sợ, xe Mỹ co rút. Khi chị Võ Thị Bạch Tuyết bị địch bắt, chúng tịch thu một cuốn sổ tay ghi số liệu tổng kết: 117 xe Mỹ bị sinh viên học sinh đốt trong chiến dịch này.





    Phụ nữ miền Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975



    Khí thế tiến công mãnh liệt, thần tốc của lực lượng vũ trang cách mạng trên khắp các chiến trường đã làm cho tinh thần binh sĩ, sĩ quân địch hoang mang tan rã. Phụ nữ miền Nam phát huy sở trường của mình làm công tác binh vận rất có hiệu quả. Nổi bật nhất vẫn là việc chị em đã tiếp tục phát huy thế tiến công bằng ba mũi giáp công để chiếm đồn bốt địch ở sơ sở, tiến lên khởi nghĩa chiếm tiểu khu, chi khu, công sở, buộc địch phải đầu hàng, giải phóõng nhiều vùng nông thôn giành chính quyền ở khóm, phường nhiều thành phố, thị xã, thị trấn. Ở ngay nội thành Sài Gòn, lực lượng phụ nữ đã làm nòng cốt trong nhiều cuộc khởi nghĩa như ở Phú Nhuận, Bảy Hiền, Khánh Hội, Bàn Cờ, Xí nghiệp Liên Phương, Sicovina, Vimytex, Vinatexco, bệnh viện Đồn Đất v.v...

    Ngày 30-4-1975 khi đại quân tiến vào Sài Gòn, người dẫn đường cho bộ đội là nữ giao liên Nguyễn Trung Kiên đã dẫn đầu xe tăng của Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập.



    Phụ nữ miền Nam "giỏi việc nước, đảm việc nhà"



    Trong những năm đen tối ở miền Nam, phụ nữ phải gánh chịu nhiều đau khổ do các chính sách hà khắc, man rợ của địch, là người đấu tranh ngoan cường, chẳng những trên lĩnh vực đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, đồng thời còn giữ vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực âm thầm khác trong cuộc đấu tranh trường kỳ.

    · Che giấu, nuôi dưỡng cán bộ:

    Vào những năm đầu dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, nhân dân miền Nam sống trong không khí ngột ngạt bởi chính sách khủng bố đàn áp, truy lùng Việt cộng. Chúng muốn biến nhân dân miền Nam thành lực lượng chống đối cách mạng. Nhưng nhân dân, nhất là phụ nữ, chị em đã dùng trăm phương nghìn kế để bảo vệ cán bộ, bảo vệ cách mạng. Giặc bắt chị em đi truy cán bộ, khi gặp cán bộ, chị em không tri hô, không chỉ giặc bắt mà còn tìm mọi các để chỉ đường cho cán bộ chạy trốn, ẩn nấp. Trong nhà tù, giặc đánh đập, tra tấn bắt khai báo, chị em thề chết không khai, không nhìn mặt. Trong thôn, ấp phường, khóm, lợi dụng thế công khai hợp pháp, chị em vận động tổ chức những đội dân canh chống cướp bảo vệ xóm làng, thực chất là tổ chức bảo vệ che giấu cán bộ, trừng trị bọn đi lùng sục tìm bắt cán bộ. Khắp miền Nam, không nơi nào lại không có những hình ảnh người phụ nữ, dù bị địch thường xuyên bao vây, rình mò, vẫn ngụy trang đón cán bộ vào nhà, đào hầm bí mật trong nhà, ngoài vườn nuôi dưỡng, che giấu hoặc tiếp tế lương thực, thực phẩm cho lực lượng cách mạng ở khu du kích. Có biết bao nnhiêu tấm gương chói lọi trong lĩnh vực này như mẹ Huỳnh Thị Lục dân tộc Châu Mạ (Tây Ninh), mẹ Nguyễn Thị Rành ở Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh), mẹ Nhu, mẹ Cộng (Quảng Nam - Đà Nẵng), mẹ Thạch Thị Thanh (Trà Vinh), má Nguyễn Thị Nhâm người mang mật danh JB4 (Đồng Nai).v.v...



    · Phục vụ chiến trường:

    Khi chiến tranh mở rộng, chiến trường đòi hỏi một đội ngũ dân công đông đảo để phục vụ chiến đấu. Số đông dân công đó là phụ nữ, nhất là nữ thanh niên, được tổ chức trong các đội: nữ dân công, nữ thanh niên xung phong. Chị em làm các việc cấp dưỡng, nuôi quân, tiếp tế đạn dược, tiếp tế lương thực, tải thương, xây dựng công sự chuẩn bị chiến trường... Ưu điểm nổi bật của các đội nữ dân công, nữ thanh niên xung phonglà bám sát tiền duyên, nhanh chóng đưa thương binh, tử sĩ về tuyến sau, biểu lộ một tình yêu thắm thiết và tinh thần trách nhiệm cao.

    Về nữ dân công không thể không nhắc đến đội xe đạp thồ gồm 22 chị em ở Sông Bé, hoạt động từ năm 1967 đến năm 1971, vượt qua bom đạn và muôn vàn khó khăn thiếu thốn đã đưa từ hỏa tuyến về phía sau an toàn trên 100 thương binh, vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, lương thực, đạn dược cho chiến trường. Các đội nữ dân công thường trực của từng xã thuộc các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa... các đơn vị nữ ở các tiểu đoàn vận tải thuộc Khu 8, Khu 9; các đội nữ thanh niên xung phong miền Tây đi phục vụ chiến trường với khẩu hiệu: "xung phong đi trước, vượt mọi gian nguy, đâu cần cũng đi, tiến lên hoàn thành nhiệm vụ". Đặc biệt các đội nữ dân công phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn đảm bảo chi viện của miền Bắc cho miền Nam, trong đó tấm gương của chị em người Thượng thật đáng kính và xúc động: Có chị em trước ngực địu con, sau lưng cõng hàng mà vẫn tháng ngày thoăn thoắt trên đường rừng núi như những chiến sĩ chân đồng vai sắt. Nhiều chị em vận tải hàng với khối lượng của mình mà vẫn đảm bảo đi đến nơi đến chốn, lập nên những kỷ lục kỳ diệu.

    Trên các đường dây giao liên, đặc biệt là giao liên công khai trên chiến trường đô thị, vai trò đặc biệt của phụ nữ không thể nào thay thế được.

    · Chăm lo công tác hậu phương:

    Trong khi nhân dân miền Nam dồn sức cho tiền tuyến đánh địch, phụ nữ miền Nam là lực lượng sản xuất chủ yếu ở nông thôn, gánh vác công việc đồng áng dưới bom đạn và chất độc hóa học của địch, đảm bảo cung cấp lương thực, vừa nuôi gia đình, vừa đóng góp cho cách mạng. Khi cách mạng mở rộng vùng giải phóng, đông đảo phụ nữ đã tham gia công tác xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, quản lý xóm làng. Tỷ lệ phụ nữ trong nhiều hội đồng nhân dân và ủy ban giải phóng là 40%. Các chị vừa lo việc nước vừa gách vác việc nhà thay chồng nuôi con, làm tròn thiên chức làm mẹ với con cái, thủy chung với chồng thoát ly đánh giặc.

    · Trên mặt trận ngoại giao:

    Cùng với uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng, của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, vai trò của phụ nữ miền Nam ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế. Nhiều cán bộ ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam là nữ, như các chị: Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Chơn, Đỗ Duy Liên, Nguyễn Ngọc Dung, Phạm Thanh Vân (bà Ngô Bá Thành); nhiều cán bộ nữ đứng đầu đoàn đại biểu của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đi công tác ở nước ngoài. Trong các đoàn đại biểu phụ nữ miền Nam ra hoạt động ở nước ngoài, ở các hội nghị quốc tế có nhiều chị em là nhân chứng sống tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ. Chị em còn tranh thủ mời nhiều nhà báo nữ tiến bộ như chị Madelène Riffaud (Pháp), chị Monica (Ba Lan), chị Marta (Cu Ba)... vào thăm vùng giải phóng miền Nam, tổ chức được đại hội phụ nữ quốc tế ngay tại Sài Gòn... Với phong thái ung dung, bản chất dịu dàng, tình cảm hữu nghị, lý lẽ sắc bén, các chị đã thuyết phục có hiệu quả nhiều người trong giới cầm quyền ở một số nước thân Mỹ còn hoài nghi Việt Nam, làm cho họ thay đổi thái độ, các chị còn kết hợp linh hoạt việc tranh thủ các nhân vật trong chính giới với việc tạo điều kiện cho nhân dân nước đó hiểu rõ và ngày càng có cảm tình với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.

    Phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà thật xứng đáng với tám chữ vàng: "Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang".

    Phong trào phụ nữ miền Nam trong những năm chống Mỹ cứu nước thực chất là một cuộc vận động cách mạng sâu sắc và rộng lớn nhất của giới nữ, thể hiện được sự kết hợp hài hòa giữa ba mặt: dân tộc, giai cấp và giới; là một bộ phận khắng khít của phong trào cách mạng rộng lớn của nhân dân miền Nam, nhân dân Việt Nam nói chung, đấu tranh cho mục tiêu thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc.

    Nhân dân ta đời đời biết ơn những bà mẹ Việt Nam chẳng những "đã sản sinh ra và cống hiến cho Tổ quốc những người con ưu tú đã và đang chiến đấu anh dũng, bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại" mà tự mình đã cống hiến cho Tổ quốc tài năng, trí tuệ và lòng dũng cảm tuyệt vời để đánh đuổi bọn giặc ngoại xâm giải phóng đất nước, bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, nêu những gương sáng cho con cháu mai sau.



    ("Chung một bóng cờ" - NXB Chính trị quốc gia)
    Lang Thang Một Kiếp Người

  10. Các thành viên Thích Luân Kute vì bài viết này:

    b0y_87_t1m_ngu0i_y3u (23-04-2009)

  11. #8
    Tham gia
    Oct 2008
    Cư trú
    Hà Nội
    Tuổi
    23
    Bài viết
    1,200
    Thích
    143
    Được Thích 267 lần trong 182 bài
    Đã nhắc đến
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Mặc định

    phụ nữ Việt Nam " trung hậu đảm đang"
    Giỏi việc nước đảm việc nhà
    Từ ngàn xưa đã vậy
    Thời kì nào, giai đoạn nào cũng có những gương mặt tiêu biểu cho người phụ nữ VN từ truyền thống cho đến hiện đại
    Các bác mà khen thì có mà bao nhiêu trang giấy cũng không hết
    Mình xa nhau thôi vì ta không chung đường
    Người không trao em tình yêu như ban đầu

Thông tin

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách)

Đề Tài Tương Tự

  1. Trả lời: 26
    Bài Mới: 16-05-2010, 02:48 AM
  2. Lịch sử và truyền thống trường Cao đẳng GTVT
    By CGH_PRO in forum Các trường ĐH CĐ khác...
    Trả lời: 5
    Bài Mới: 08-06-2009, 08:57 PM
  3. Góp ý về Cuộc thi viết về Phụ nữ và Ngày 8/3
    By que_iem in forum Tháng 3: Gót hồng!
    Trả lời: 22
    Bài Mới: 09-03-2009, 08:27 PM
  4. Lịch Sử NgàY Quốc Tế Phụ Nữ 8-3 Và Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng
    By simplebest in forum CLB TN - SV Bắc Giang tại TP HCM
    Trả lời: 0
    Bài Mới: 04-03-2009, 09:01 PM
  5. 4 phụ nữ xấu nhất trong lịch sử Trung Quốc
    By Tobias in forum Sắc màu cuộc sống
    Trả lời: 5
    Bài Mới: 05-11-2008, 01:48 AM

Tags for this Thread

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Danh bạ web game cho mobile Tai Game iWin, Bigone, iOnline, Tai avatar, Bigone